Theo báo cáo của Bộ Giáo và Đào tạo về tình hình thực hiện Nghị định số 238/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khối ngành sức khỏe hiện đang có chi phí đào tạo cao nhất trong hệ thống giáo dục đại học.
Theo quy định của Nghị định số 238, mức trần học phí được xác định theo nhóm ngành đào tạo và mức độ tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học.
Đối với các cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, mức trần học phí được quy định theo từng nhóm ngành đào tạo. Đối với các cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc tự bảo đảm cả chi thường xuyên và chi đầu tư, mức trần học phí được xác định theo hệ số tương ứng trên cơ sở mức trần của nhóm chưa tự chủ.
Kết quả khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cho thấy mức thu học phí của các cơ sở giáo dục đại học có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm ngành đào tạo và giữa các cơ sở có mức độ tự chủ tài chính khác nhau. Tuy nhiên, xu hướng chung cho thấy phần lớn các cơ sở giáo dục đại học vẫn đang áp dụng mức học phí thấp hơn, hoặc tiệm cận mức trần quy định tại Nghị định số 238.
Từ khảo sát, khối ngành sức khỏe hiện có mặt bằng học phí cao nhất trong tất cả các nhóm ngành đào tạo. Nhiều chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực y khoa, dược học, răng hàm mặt, điều dưỡng và kỹ thuật y học đang áp dụng mức học phí cao hơn đáng kể so với các nhóm ngành khác.
Tại các cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên, học phí tối đa của nhóm ngành điều dưỡng, kỹ thuật y học, y tế công cộng đạt 82,2 triệu đồng/người học/năm, tương đương 174,2% mức trần. Đối với nhóm ngành y học và dược học đạt 79,5 triệu đồng/người học/năm, tương đương 127,8% mức trần.
Tại nhóm cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên (mức 3,4), mức học phí bình quân của các ngành sức khỏe cũng vượt xa các nhóm ngành còn lại.
Tỷ lệ học phí bình quân so với mức trần của nhóm ngành điều dưỡng, kỹ thuật y học, y tế công cộng đạt 152,9%, trong khi mức tối đa lên tới 273,3%. Đối với nhóm ngành y học và dược học, tỷ lệ tương ứng là 139,9% và 196,5%. Trong khi đó, phần lớn các nhóm ngành khác chỉ dao động quanh mức trần hoặc thấp hơn mức trần quy định.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, thực tế này phản ánh đặc thù của khối ngành sức khỏe với yêu cầu cao về thực hành, thực tập lâm sàng, hệ thống cơ sở thực hành tại bệnh viện, trang thiết bị chuyên môn, vật tư tiêu hao và đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên sâu.
Qua khảo sát, một số cơ sở đào tạo như Trường Đại học Y Hà Nội và Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế cho rằng, việc xếp ngành răng hàm mặt vào cùng nhóm học phí với điều dưỡng, hộ sinh, dinh dưỡng và kỹ thuật y học, chưa phản ánh đầy đủ đặc thù đào tạo của ngành.
Theo ý kiến của các cơ sở đào tạo, chương trình bác sĩ răng hàm mặt có yêu cầu về kiến thức chuyên môn, thời lượng thực hành lâm sàng, cơ sở vật chất và chi phí đào tạo tương đương với ngành y học. Do đó, các cơ sở kiến nghị nghiên cứu điều chỉnh ngành răng hàm mặt sang cùng nhóm học phí với ngành y học và dược học, nhằm phù hợp hơn với chi phí đào tạo thực tế và yêu cầu bảo đảm chất lượng đào tạo.
Cùng với mức thu học phí, khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo còn tập trung đánh giá mối quan hệ giữa mức học phí thực tế và chi phí đào tạo do các cơ sở giáo dục đại học cung cấp. Qua đó, xem xét mức độ đáp ứng của nguồn thu học phí đối với chi phí đào tạo và mức độ phù hợp của khung học phí hiện hành.
Kết quả khảo sát cho thấy, học phí hiện nay nhìn chung chưa phản ánh đầy đủ chi phí đào tạo thực tế, đặc biệt đối với các ngành có yêu cầu đầu tư lớn về cơ sở vật chất, thực hành, thí nghiệm và thực tập chuyên môn. Mức độ chênh lệch giữa học phí và chi phí đào tạo có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm cơ sở giáo dục đại học và các nhóm ngành đào tạo.
Đối với khối ngành sức khỏe, ở nhóm cơ sở giáo dục đại học tự chủ tài chính, mặc dù học phí đang ở mức cao hơn đáng kể so với các nhóm ngành khác, chi phí đào tạo thực tế cũng rất lớn do yêu cầu về cơ sở thực hành, thực tập lâm sàng, trang thiết bị chuyên môn, vật tư tiêu hao và đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên sâu.
Kết quả khảo sát cho thấy, đây vẫn là nhóm ngành có chi phí đào tạo cao nhất trong hệ thống giáo dục đại học.
Với nhóm cơ sở giáo dục đại học chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, khoảng cách giữa học phí và chi phí đào tạo thực tế là lớn nhất.
Chi phí đào tạo của các ngành điều dưỡng, kỹ thuật y học, y tế công cộng, y học và dược học đều cao hơn đáng kể so với mức trần học phí hiện hành (chiếm 62-85%). Điều này cho thấy ngay cả khi áp dụng mức học phí tối đa theo quy định, nhiều cơ sở đào tạo vẫn không thể bù đắp đầy đủ chi phí đào tạo từ nguồn thu học phí.
Cùng với đó, khảo sát cũng cho thấy khối ngành sức khỏe là nhóm có mức vượt trần cao nhất. Một số chương trình đào tạo trong lĩnh vực y khoa, răng hàm mặt, điều dưỡng và kỹ thuật y học có mức học phí tính đủ chi phí đào tạo cao gấp từ 2 đến 4 lần mức trần hiện hành. Do đó, cần nghiên cứu cơ chế học phí riêng hoặc cơ chế xác định học phí linh hoạt hơn đối với nhóm ngành này.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ kết quả khảo sát, cho thấy những khó khăn trong thực hiện cơ chế học phí hiện nay không chủ yếu xuất phát từ việc các cơ sở giáo dục đại học chưa tận dụng hết khung học phí được phép áp dụng, mà từ khoảng cách giữa mức trần học phí và chi phí đào tạo thực tế của nhiều ngành đào tạo.
Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chính sách học phí theo hướng gắn chặt hơn với định mức kinh tế - kỹ thuật, chi phí đào tạo thực tế và mức độ tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học.
Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế linh hoạt hơn đối với các ngành có chi phí đào tạo cao như sức khỏe, kỹ thuật - công nghệ và nghệ thuật, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, khả năng chi trả của người học và mục tiêu thúc đẩy tự chủ đại học.
Trong tháng 10/2026 ghi nhận 61 trạm có nhiệt độ cao nhất tuyệt đối ngày đạt và vượt giá trị lịch sử, đồng thời có 98 trạm khí tượng có nhiệt độ trung bình tháng đạt và vượt giá trị lịch sử cùng thời kỳ. Dự báo từ tháng 11/2026-1/2027, nhiệt độ trung bình cả nước phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm; không khí lạnh có khả năng hoạt động yếu hơn và rét đậm, rét hại xuất hiện muộn hơn với số ngày phổ biến thấp hơn...
Theo PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu, vấn đề mang tính quyết định đến niềm tin của nhân dân là sự công bằng trong việc tiếp cận ghép tạng và sự minh bạch trong chi phí. Tổ chức Y tế Thế giới cũng nhấn mạnh nguyên tắc phân bổ tạng phải dựa trên tiêu chí lâm sàng và đạo đức, tuyệt đối không dựa trên khả năng tài chính...
Báo cáo về dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) sáng 2/11, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết dự thảo đã được tiếp thu theo hướng quy định người dưới 18 tuổi chỉ được hiến mô tái sinh thuộc danh mục do Bộ Y tế ban hành, và phải đáp ứng các điều kiện hết sức chặt chẽ. Tuyệt đối không lấy mô không tái sinh, bộ phận cơ thể của người sống dưới 18 tuổi...
Làn sóng đầu tư công và loạt dự án hạ tầng trọng điểm tăng tốc đang đẩy thị trường lao động trong ngành xây dựng tại Hà Nội vào cơn "khát" nhân lực. Không chỉ thiếu hụt lao động phổ thông, việc tìm kiếm kỹ sư giỏi, thợ tay nghề cao đang trở thành áp lực cạnh tranh giữa chính các doanh nghiệp trong ngành...
Trước những hạn chế về thủ tục tiền kiểm và các bất cập trong quy định về mô hình liên kết mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài. Quy định mới được kỳ vọng sẽ giải quyết triệt để các khó khăn, tiếp tục khơi thông nguồn vốn FDI đã chạm mốc gần 1 tỷ USD trong lĩnh vực này...
Từ những công trình kiến trúc cổ kính đến không gian Hoàng cung được tái hiện bằng công nghệ số, di sản Huế đang được kể lại bằng ngôn ngữ mới, đưa những câu chuyện lịch sử đến gần hơn với thế hệ trẻ.
Công nghệ minh giải địa chấn ba chiều đã mang lại đột phá trong quá trình phân tích, xử lý và dựng lại hình ảnh không gian ba chiều của các lớp đất đá, cấu trúc địa chất và vỉa chứa bên dưới bề mặt Trái Đất từ dữ liệu sóng địa chấn. Việc ứng dụng công nghệ này giúp Dầu khí phát hiện ra những cấu tạo, khu vực tiềm năng mới mà bằng những công nghệ truyền thống không phát hiện được.