Chiều 10/4, Diễn đàn Nhịp cầu phát triển lần thứ tư, năm 2024 với chủ đề “Tiến trình Việt Nam phát triển kinh tế xanh và bền vững: Từ chính sách của Chính phủ tới các sáng kiến, giải pháp của địa phương và doanh nghiệp” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam phối hợp với Bộ Ngoại giao và UBND TP. Hải Phòng được tổ chức tại Hải Phòng.
Tại phiên thảo luận về các nỗ lực thúc đẩy tiến trình chuyển đổi xanh tại Việt Nam, ông Tăng Thế Cường, Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường, đề cập đến vai trò quản lý của nhà nước và những việc doanh nghiệp cần làm để tham gia thị trường tín chỉ carbon.
Theo ông Cường, Phó thủ tướng Trần Hồng Hà có bài phát biểu nêu bật vấn đề Việt Nam đã tham gia các điều ước quốc tế liên quan đến biến đổi khí hậu.
Thể chế hóa Nghị quyết 04/2013, Luật bảo vệ môi trường năm 2020 thể hiện rõ tư tưởng chuyển từ “nâu” sang “xanh”. Các tiêu chuẩn môi trường cùng với công tác ứng phó khí hậu đã được đưa vào luật, trong đó có Nghị định 06/2022/TT-CP ngày 7/1/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn và các quy định liên quan. Việt Nam cũng phải thực hiện cam kết của COP26. Hiện nay, có trên 150 quốc gia tuyên bố đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và Việt Nam không nằm ngoài cuộc.
“Con đường chúng ta đã lựa chọn là như vậy. Chúng ta phải thực hiện giảm phát thải khí nhà kính. Những việc này phải xuất phát từ khối doanh nghiệp và các hoạt động sản xuất của người dân", ông Cường cho biết.
Theo Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, trên cơ sở đó, hiện nay, theo Nghị định 06 và Luật Bảo vệ môi trường, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành danh mục lĩnh vực, các cơ sở thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Chúng ta thực hiện kiểm kê và có kế hoạch giảm phát thải; từ đó, có hạn ngạch để trao đổi trên thị trường carbon.
Đối với thị trường tự nguyện, các doanh nghiệp đã tạo tín chỉ như là tín chỉ rừng, tín chỉ từ năng lượng tái tạo hay tín chỉ giảm phát thải như đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao. Việt Nam có rất nhiều nguồn tạo tín chỉ trên các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Từ những năm 1990 đến nay, Việt Nam đứng thứ 5 của các nước trên thế giới trao đổi các dự án theo cơ chế phát triển sạch. Thông qua các dự án này, Việt Nam có 41 triệu tín chỉ. Và hiện nay có doanh nghiệp đã trao đổi tín chỉ quốc tế.
“Trên thị trường tự nguyện, chúng ta đã có tín chỉ từ hoạt động năng lượng tái tạo, chuyển đổi kể cả tín chỉ carbon và có giao dịch. Theo Điều 6 Thỏa thuận Paris, một số quốc gia, các đối tác quốc tế muốn ký với Việt Nam để trao đổi tín chỉ carbon. Theo Thỏa thuận Paris, hiện nay, chúng ta phải thực hiện các mục tiêu giảm phát thải quốc gia. Những vấn đề này đòi hỏi phải có cơ chế quốc tế. Quốc tế đã và đang có hướng dẫn đầy đủ nội dung Thỏa thuận Paris”, ông Cường cho biết thêm.
Theo ông Tăng Thế Cường, Việt Nam chưa có thị trường hạn ngạch carbon. Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tài nguyên Môi trường và các bộ, ngành đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ Đề án phát triển thị trường carbon.
Đề án này quy định đầy đủ tất cả vấn đề cần thiết để Việt Nam có thể triển khai sớm nhất, dự kiến từ 2025 có thể thực hiện thí điểm và sau năm 2027 sẽ vận hành chính thức thị trường này. Tất nhiên điều này phải đòi hỏi sự cố gắng bởi vì các nước đã thực hiện trong cả một quá trình và có lịch sử lâu đời.
Xuất phát từ việc lấy tín chỉ carbon, nhu cầu trao đổi tín chỉ carbon quốc tế, nhu cầu thiết yếu của việc phát triển thị trường carbon để các doanh nghiệp trong nước trao đổi với nhau, Bộ Tài nguyên Môi trường đang rà soát, sửa đổi Nghị định 06 nhằm đưa vào các quy định mới về quản lý tín chỉ carbon và phát triển thị trường carbon.
Bộ Tài nguyên Môi trường đã đăng tải dự thảo trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ và lấy ý kiến các bộ ngành, địa phương trên cả nước.
Nội dung thảo luận tập trung vào cơ chế công khai danh mục Nhà nước độc quyền thương mại, kiểm soát giá - chất lượng hàng hóa, đồng thời rà soát kỹ việc bãi bỏ các quy định hợp đồng để tránh tạo khoảng trống pháp lý cho doanh nghiệp...
Theo nhiều đại biểu Quốc hội, thay vì chỉ tập trung vào tổng diện tích sàn hoặc số lượng căn hộ được xây dựng, cần có cơ chế theo dõi, đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; Thay vì cấm sử dụng căn hộ chung cư vào mục đích không phải để ở, cần nghiên cứu trường hợp ngoại lệ, nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của cư dân…
Hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng phải được đo bằng thiệt hại được giải quyết thực chất, không phải bằng số thủ tục hay số đầu mối đã được phân cấp…
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH) đã kỷ niệm 50 năm thành lập và vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất, đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của UEH, góp phần kiến tạo đội ngũ tri thức, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước…
“Quan trọng nhất của việc xây dựng luật này chính là bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư và của các thành viên thị trường”, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.