Xu hướng tăng trưởng này được thúc đẩy bởi nhu cầu toàn cầu ổn định, bất chấp những gián đoạn lớn trong chuỗi cung ứng do cuộc chiến tranh ở Vùng Vịnh gây ra.
Theo dữ liệu thống kê từ Chính phủ Nhật Bản ngày 21/5, tổng giá trị xuất khẩu của nước này trong tháng 4 tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước, vượt xa dự báo trung bình của thị trường là tăng 9,3%, đồng thời cao hơn mức tăng sau khi đã điều chỉnh là 11,5% của tháng 3.
Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Mỹ đã tăng 9,5% so với cùng năm trước. Xuất khẩu sang Trung Quốc, đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản, tăng 15,5%.
Kim ngạch nhập khẩu tháng 4 của Nhật Bản tăng 9,7%, cao hơn dự báo của thị trường là tăng 8,3%, mặc dù nhập khẩu dầu mỏ giảm mạnh.
Lượng dầu thô nhập khẩu giảm 64% về mặt khối lượng, đánh dấu mức giảm mạnh nhất kể từ năm 1980, và giảm 49,9% về giá trị, mức giảm lớn nhất kể từ tháng 11/2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19.
Việc Nhật Bản tăng nhập khẩu dầu thô từ Mỹ đã giúp bù đắp một phần sự sụt giảm trong lượng dầu mà nước này nhập khẩu từ Trung Đông.
Nhật Bản đã nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung dầu thô bằng cách tìm kiếm các nguồn cung thay thế ngoài Trung Đông, bao gồm cả từ Mỹ, nhưng điều đó vẫn chưa đủ để bù đắp hoàn toàn tác động của cuộc xung đột. Do vậy, Nhật Bản đạt được thặng dư thương mại 301,9 tỷ yên (tương đương 1,9 tỷ USD) trong tháng 4, so với dự báo là thâm hụt 29,7 tỷ yên.
Bà Koya Miyamae, nhà kinh tế cao cấp tại SMBC Nikko Securities, nhận định rằng ngoài giá dầu thô tăng cao, giá các sản phẩm liên quan đến dầu mỏ như naphtha cũng đang tăng. Do đó, trong tương lai, Nhật Bản có thể sẽ rơi vào trạng thái thâm hụt thương mại.
Tình trạng đóng cửa kéo dài ở eo biển Hormuz đã đẩy chi phí năng lượng lên cao và gây ra gián đoạn nguồn cung dầu thô và các nguyên liệu đầu vào khác. Tuy nhiên, xuất khẩu của Nhật Bản vẫn duy trì khá ổn định nhờ sản xuất trong nước tiếp tục dựa vào các kho dự trữ hàng hóa hiện có, bao gồm một dự trữ dầu chiến lược quy mô lớn.
Nhưng nếu sự gián đoạn còn kéo dài trên các tuyến cung ứng từ Trung Đông, cả nhập khẩu và xuất khẩu của Nhật Bản đều có thể bị ảnh hưởng vì chi phí sản xuất tăng và nhu cầu toàn cầu chậm lại, đặc biệt là trong các ngành tiêu thụ nhiều năng lượng như hóa chất.
Dữ liệu thống kê cũng cho thấy lượng đơn đặt hàng máy móc cốt lõi mà các nhà sản xuất Nhật Bản nhận được đã giảm 9,4% trong tháng 3 so với tháng trước đó, sâu hơn mức dự báo trung bình của thị trường là giảm 8,1%.
Một khảo sát từ khu vực tư nhân khác cho thấy hoạt động kinh doanh tương đối trầm lắng. Hoạt động sản xuất của Nhật Bản cũng đã chậm lại một chút trong tháng 5, trong khi tăng trưởng của ngành dịch vụ đã dừng lại lần đầu tiên trong hơn 1 năm, do chi phí tăng cao liên quan đến xung đột Trung Đông đã ảnh hưởng đến niềm tin người tiêu dùng.
Tăng trưởng xuất khẩu tháng 4 của Nhật Bản dựa nhiều vào xuất khẩu bán dẫn, nhóm mặt hàng ghi nhận mức tăng trưởng 41,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.
Theo chuyên gia Jesper Koll của công ty dịch vụ tài chính Monex Group ở Tokyo, thế mạnh của Nhật Bản trong lĩnh vực bán dẫn nằm ở mảng “máy để sản xuất máy”. Nhu cầu đối với những sản phẩm này của Nhật Bản được thúc đẩy bởi hai lực lượng, một là cơ sở hạ tầng công cộng ở Nam Bán cầu, và làn sóng trí tuệ nhân tạo (AI) do Mỹ dẫn đầu.
Thủ tướng Sanae Takaichi “đang thực hiện sứ mệnh quảng bá máy móc sản xuất tại Nhật Bản bằng cách gia tăng sự hỗ trợ tài chính công cho các nước Nam Bán cầu”, ông Koll nói thêm.
Số liệu tổng sản phẩm trong nước (GDP) công bố hôm 19/5 cho thấy xuất khẩu ròng vẫn là một trong những động lực tăng trưởng chính của Nhật Bản. Trong quý 1, nền kinh tế nước này tăng trưởng 0,5% so với quý trước và tăng 2,1% nếu tính theo kỳ 1 năm.
Một trong những thách thức mà Nhật Bản đang phải đương đầu hiện nay là đồng yên yếu. Theo nhận định của các nhà giao dịch, Bộ Tài chính Nhật Bản đã tiến hành hai cuộc can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ tỷ giá đồng nội tệ vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5. Đồng yên yếu có thể giúp thúc đẩy xuất khẩu của Nhật Bản, nhưng cũng dẫn tới nhập khẩu lạm phát và làm suy yếu sức mua trong nước.
Báo cáo Stern công bố cách đây 20 năm đã chỉ ra rằng chi phí không hành động trước biến đổi khí hậu lớn hơn chi phí ứng phó, đồng thời khẳng định tăng trưởng kinh tế có thể song hành với cắt giảm phát thải. Tuy nhiên, những mô hình kinh tế truyền thống vẫn đang khiến nhiều chính phủ, doanh nghiệp đánh giá thấp rủi ro khí hậu và chậm chuyển đổi…
Tỷ lệ thất nghiệp dự báo năm 2026 có sự chênh lệch rõ rệt giữa các nền kinh tế, phản ánh bức tranh thị trường lao động rất khác nhau trên thế giới. Trong đó, Việt Nam thuộc nhóm nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất...
Thông tin về gánh nặng chi phí ngày càng tăng của Mỹ trong cuộc chiến ở Vùng Vịnh xuất hiện trong bối cảnh nước này chuẩn bị bước vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ...
Thị trường tài chính Indonesia tiếp tục chịu sức ép lớn khi nhà đầu tư đồng loạt bán ra cổ phiếu, trái phiếu chính phủ và đồng rupiah, trong bối cảnh lo ngại công ty cung cấp chỉ số MSCI có thể hạ hạng thị trường chứng khoán nước này...
Trong tháng 10, rủi ro tín dụng của doanh nghiệp Nhật Bản tăng mạnh nhất kể từ tháng 9/2022, gia tăng sức ép lên thị trường trái phiếu vốn đang phải hấp thụ lượng phát hành kỷ lục...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.