Bảo hiểm xã hội Việt Nam thông tin về cách tính mức bình quân tiền lương đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu, trợ cấp một lần theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.
Theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 và Nghị định hướng dẫn, cách tính mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội được quy định chi tiết và có sự phân biệt rõ ràng giữa các nhóm đối tượng khác nhau.
Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cũng được sử dụng để tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần, trợ cấp tuất một lần và trợ cấp hằng tháng cho người không đủ điều kiện hưởng lương hưu.
Trường hợp có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ lương Nhà nước, việc tính bình quân tiền lương sẽ dựa trên số năm đóng bảo hiểm xã hội cuối cùng trước khi nghỉ hưu, theo một lộ trình.
Cụ thể, tham gia bảo hiểm xã hội trước 1/1/1995, tính bình quân của 5 năm cuối. Tham gia từ 1/1/1995 đến 31/12/2000, tính bình quân của 6 năm cuối. Tham gia từ 1/1/2001 đến 31/12/2006, tính bình quân của 8 năm cuối.
Tham gia từ 1/1/2007 đến 31/12/2015, tính bình quân của 10 năm cuối. Tham gia từ 1/1/2016 đến 31/12/2019, tính bình quân của 15 năm cuối. Tham gia từ 1/1/2020 đến 31/12/2024, tính bình quân của 20 năm cuối. Tham gia từ 1/1/2025 trở đi, tính bình quân của toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
Bên cạnh đó, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Nghị định hướng dẫn còn quy định rõ cách tính mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng đối với một số trường hợp đặc biệt.
Đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại: Người có đủ 15 năm làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trở lên, sau đó chuyển sang công việc khác có mức lương đóng bảo hiểm xã hội thấp hơn, sẽ được lấy mức lương của số năm làm công việc nặng nhọc, độc hại tương ứng với số năm tính bình quân (quy định tại khoản 1 Điều 72 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024) để tính bình quân.
Sĩ quan, quân nhân chuyển ngành: Nếu mức lương đóng bảo hiểm xã hội của những năm cuối trước khi nghỉ hưu thấp hơn so với những năm cuối trước khi chuyển ngành, họ sẽ được lấy tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của những năm cuối trước khi chuyển ngành để tính mức bình quân.
Có phụ cấp thâm niên nghề: Việc tính toán sẽ phức tạp hơn, tùy thuộc vào việc những năm cuối để tính bình quân có bao gồm phụ cấp thâm niên hay không, đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
Thời gian công tác ở cấp xã: Thời gian công tác ở cấp xã đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội, thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP, và thời gian đóng của người hoạt động không chuyên trách cấp xã sẽ được tính là thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định.
Thời gian công tác trước 1/1/1995 không hưởng lương: Nếu người lao động có thời gian công tác trước năm 1995 mà không được hưởng tiền lương, sinh hoạt phí (được trả thù lao bằng công điểm hoặc lương thực như giáo viên mầm non, chủ nhiệm hợp tác xã có quy mô toàn xã,..), thì thời gian này sẽ không được tính vào mức bình quân tiền lương.
Cách tính đối với người lao động theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định: Đối với nhóm đối tượng này, mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội sẽ được tính trên toàn bộ thời gian đóng.
Cách tính đối với người có cả hai giai đoạn đóng bảo hiểm xã hội: Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ lương Nhà nước, vừa có thời gian đóng theo chế độ do người sử dụng lao động quyết định, thì sẽ tính bình quân tiền lương chung của các thời gian. Trong đó, phần thời gian đóng theo chế độ lương Nhà nước sẽ được tính bình quân theo quy định nêu trên.
Bên cạnh đó, để đảm bảo giá trị của tiền lương đã đóng không bị trượt giá theo thời gian, pháp luật quy định phải điều chỉnh tiền lương trước khi tính bình quân.
Đối với khu vực Nhà nước: Người tham gia bảo hiểm xã hội trước 1/1/2016, tiền lương đã đóng được điều chỉnh theo "mức tham chiếu" tại thời điểm hưởng chế độ. Người tham gia từ 1/1/2016 trở đi, sẽ được điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.
Đối với khu vực ngoài Nhà nước: Tiền lương đã đóng bảo hiểm xã hội được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ. Hệ số điều chỉnh này được Bảo hiểm xã hội Việt Nam xác định và công khai hằng năm dựa trên số liệu do Cục Thống kê, Bộ Tài chính cung cấp.
Tại kỳ họp chuyên đề (kỳ họp thứ bảy) HĐND thành phố Hà Nội khóa XVII đã thông qua Nghị quyết Quy định chính sách hỗ trợ một lần đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố nghỉ giữ chức danh do cơ cấu, kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ khi sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố năm 2026...
Lập sàn chứng khoán giả để thực hiện 920 vụ lừa đảo, nhóm đối tượng do Phó Đức Nam cầm đầu không chỉ chiếm đoạt hơn 1.500 tỷ đồng mà còn thực hiện hành vi rửa tiền quy mô lớn với hơn 561 tỷ đồng được "đổ" vào bất động sản, vàng và USD...
Với việc chuyển đổi thành công mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân, từ nay người dân khi đi làm các thủ tục hành chính về bảo hiểm xã hội, hay đi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế chỉ cần nhớ số định danh cá nhân/căn cước công dân, thay vì phải mang theo nhiều loại giấy tờ như trước đây...
Bộ Y tế vừa yêu cầu siết chặt quản lý đối với chất lượng bữa ăn bán trú. Theo đó, mọi sự thay đổi trong thực đơn đều phải được rà soát, công khai minh bạch và phân định rõ trách nhiệm của từng bên để bảo đảm sức khỏe tối đa cho học sinh...
Sau hơn 5 tháng triển khai, 16 doanh nghiệp sản xuất tại miền Bắc ghi nhận những cải thiện về năng suất, quy trình quản lý và ứng dụng dữ liệu thông qua hai chương trình tư vấn nhà máy thông minh và khuôn mẫu thông minh...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.