Ông Sukumar Subramaniam, CEO công ty sản xuất hàng dệt may Sarathy Exports tại thành phố Karur, miền Nam Ấn Độ, đang chuẩn bị tinh thần cho những cuộc đàm phán khó khăn với khách hàng Mỹ.
Sau khi chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo áp thuế quan 50% lên hàng hóa Ấn Độ hiệu lực từ ngày 27/8, công ty bán lẻ Dollar General của Mỹ đã yêu cầu ông Subramaniam giảm giá sản phẩm 16%. Các khách hàng Mỹ khác của Sarathy Exports dự kiến cũng sẽ sớm có yêu cầu tương tự.
Tuy nhiên, theo ông Subramaniam, việc giảm giá mạnh như vậy là “bất khả thi”.
“Biên lợi nhuận của chúng tôi không thể chịu được mức giảm giá đó”, ông Subramaniam chia sẻ với tờ báo Nikkei Asia. “Tôi chỉ có thể giảm nhiều nhất là khoảng 3%”.
Ông Subramaniam là một trong hàng nghìn nhà sản xuất Ấn Độ đang cố vượt qua sóng gió do thuế quan Mỹ tăng lên. Ấn Độ là một trong những quốc gia chịu thuế đối ứng Mỹ ở mức cao, với 25%. Ngoài ra, Washington cũng áp đặt thuế quan thứ cấp 25% đối với hàng hóa Ấn Độ như một biện pháp trừng phạt vì nước này mua ồ ạt dầu Nga - hành động ông Trump cho là “hỗ trợ cho cuộc chiến của Nga ở Ukraine”.
Thuế quan tăng khiến các doanh nghiệp Mỹ yêu cầu giảm giá và đẩy các nhà sản xuất Ấn Độ rơi vào thế khó. Giảm giá sẽ khiến lợi nhuận sụt giảm hoặc thậm chí không còn lỗ. Còn nếu không giảm giá, họ có thể sẽ bị loại khỏi nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Ông Subramaniam dự báo lượng đơn hàng từ Mỹ với công ty ông sẽ giảm mạnh nếu thuế quan 50% được duy trì vì người tiêu dùng Mỹ có thể mua khăn trải bàn, khăn nhà bếp, túi xách và đồ gia dụng từ Việt Nam và Trung Quốc với giá rẻ hơn nhiều. Hàng xuất khẩu từ Việt Nam vào Mỹ hiện chịu thuế quan 20%, còn hàng Trung Quốc chịu 30%.
Công ty của ông Subramaniam hiện có 25% doanh thu đến từ thị trường Mỹ.
“Với mức thuế quan 25%, bằng cách giảm biên lợi nhuận và nâng cao hiệu suất, các nhà sản xuất Ấn Độ vẫn có thể cạnh tranh được với các nước khác ở châu Á - nơi chịu mức thuế quan đối ứng cơ sở của Mỹ là khoảng 20%. Nhưng với mức 50%, điều này gần như bất khả thi”, ông Alexandra Hermann, chuyên gia kinh tế trưởng tại công ty nghiên cứu và tư vấn Oxford Economics, nhận xét.
Mỹ hiện miễn thuế đối ứng cho các sản phẩm dầu mỏ, dược phẩm và điện thoại thông minh. Tuy nhiên, các mặt hàng còn lại - chiếm 72% tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm tài chính 2024 của Ấn Độ - có thể chứng kiến lượng đơn đặt hàng từ Mỹ giảm tới 90% - theo dự báo của công t tư vấn Global Trade Research Initiative (GTRI) có trụ sở tại New Delhi.
“Thuế quan là mối đe dọa sống còn với các mặt hàng xuất khẩu thâm dụng lao động như may mặc, dệt may, hải sản và trang sức. Những mặt hàng này của Ấn Độ có nguy cơ mất thị phần đã gây dựng được trong hai thập kỷ qua”, ông Ajay Srivastava, người sáng lập GTRI, nhận định. “Điều này sẽ gây ra hậu quả khốc liệt cho thị trường việc làm Ấn Độ”.
Trong bối cảnh xuất khẩu sang Mỹ dự kiến giảm mạnh, các nhà sản xuất Ấn Độ đang tìm kiếm các thị trường khác để bù đắp lại. Ví dụ, ông Subramaniam của công ty Sarathy đang lên kế hoạch tăng xuất khẩu sang thị trường châu Âu, Nam Mỹ và châu Phi. Tuy nhiên, theo các nhà phân tích, việc mở rộng thị trường này cũng không dễ dàng.
“Hầu hết các quốc gia đều phải chịu mức thuế quan 15-20% của Mỹ, và việc giá cả tăng cao ở Mỹ dự kiến sẽ làm giảm nhu cầu của người tiêu dùng Mỹ”, ông Srivastava dự báo. “Điều này đồng nghĩa là các nhà xuất khẩu trên toàn thế giới sẽ cạnh tranh quyết liệt để bán lượng hàng hóa dư thừa sang các thị trường thay thế cho Mỹ. Điều này khiến việc mở rộng thị trường xuất khẩu sẽ rất khó khăn và khốc liệt”.
Dù nhiều nhà phân tích kỳ vọng Washington sẽ dỡ bỏ thuế quan bổ sung 25% sau khi hoàn tất thỏa thuận thương mại với Ấn Độ, các cuộc đàm phán này đã đi vào bế tắc. Thay vào đó, căng thẳng giữa hai quốc gia lại leo thang. Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi gần đây tuyên bố New Delhi sẽ không thỏa hiệp trong các vấn đề ảnh hưởng tới phúc lợi của nông dân, kể cả khi ông phải “trả giá đắt”.
Việc Ấn Độ từ chối mở cửa thị trường cho nông sản và sữa của Mỹ là một điểm nghẽn chính trong các cuộc đàm phán thương mại song phương. Theo các nhà phân tích tại công ty dịch vụ tài chính Nomura, sự bế tắc này có thể đe dọa tăng trưởng của kinh tế Ấn Độ. Công ty này đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế nước này từ mức 6,2% xuống còn 6% cho năm tài chính 2025.
Trong bối cảnh các cuộc đàm phán thương mại đang trì trệ, một số nhà sản xuất Ấn Độ như Kama Jewelry đang đánh giá kế hoạch sản xuất tại Mỹ dù chi phí vận hành tại đây đắt đỏ.
Tổng giám đốc Colin Shah của Kama Jewelry cho biết Mỹ là một thị trường quan trọng khi mang về doanh thu khoảng 30 triệu USD mỗi năm và chiếm gần một nửa tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu của công ty này.
"Đối với một số nhà sản xuất, Mỹ là một phần quan trọng trong hoạt động kinh doanh của họ và không dễ để thay thế”, ông Shah nói. “Trong trường hợp thuế quan vẫn được duy trì, hầu hết chúng tôi sẽ phải bắt đầu sản xuất tại Mỹ. Dù chi phí hoạt động ở đó đắt đỏ hơn nhiều so với Ấn Độ, nhưng chúng tôi không còn lựa chọn nào khác”.
Báo cáo Stern công bố cách đây 20 năm đã chỉ ra rằng chi phí không hành động trước biến đổi khí hậu lớn hơn chi phí ứng phó, đồng thời khẳng định tăng trưởng kinh tế có thể song hành với cắt giảm phát thải. Tuy nhiên, những mô hình kinh tế truyền thống vẫn đang khiến nhiều chính phủ, doanh nghiệp đánh giá thấp rủi ro khí hậu và chậm chuyển đổi…
Tỷ lệ thất nghiệp dự báo năm 2026 có sự chênh lệch rõ rệt giữa các nền kinh tế, phản ánh bức tranh thị trường lao động rất khác nhau trên thế giới. Trong đó, Việt Nam thuộc nhóm nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất...
Thông tin về gánh nặng chi phí ngày càng tăng của Mỹ trong cuộc chiến ở Vùng Vịnh xuất hiện trong bối cảnh nước này chuẩn bị bước vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ...
Thị trường tài chính Indonesia tiếp tục chịu sức ép lớn khi nhà đầu tư đồng loạt bán ra cổ phiếu, trái phiếu chính phủ và đồng rupiah, trong bối cảnh lo ngại công ty cung cấp chỉ số MSCI có thể hạ hạng thị trường chứng khoán nước này...
Trong tháng 10, rủi ro tín dụng của doanh nghiệp Nhật Bản tăng mạnh nhất kể từ tháng 9/2022, gia tăng sức ép lên thị trường trái phiếu vốn đang phải hấp thụ lượng phát hành kỷ lục...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.