Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị cho biết tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh hiện đạt 61,01% – một con số cao so với nhiều địa phương trong khu vực. Đây là điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển các loại cây dược liệu dưới tán rừng, tận dụng hiệu quả đất đai mà không phá vỡ hệ sinh thái.
Những năm gần đây, Quảng Trị đã chủ động quy hoạch, hình thành các vùng trồng dược liệu tập trung, từng bước đưa cây dược liệu trở thành sản phẩm nông nghiệp đặc trưng.
Đến nay, toàn tỉnh đã trồng được hơn 500 ha dược liệu với nhiều loại cây chủ lực cho năng suất và giá trị kinh tế cao. Điển hình là các loại cây như: cà gai leo đạt sản lượng khoảng 440 tấn mỗi năm, chè vằng khoảng 395 tấn, an xoa 510 tấn và nghệ đạt gần 594 tấn mỗi năm. Đây đều là những dược liệu quen thuộc, có thị trường tiêu thụ ổn định, được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất thuốc và thực phẩm chức năng.
Không chỉ dừng lại ở các cây dược liệu phổ biến, nhiều mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng đang cho thấy hiệu quả rõ rệt. Tại khu vực Đakrông, mô hình trồng sa nhân tím đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân.
Ở Hướng Hóa, việc phát triển sâm Ngọc Linh – một loại dược liệu quý – đang mở ra hướng đi mới có giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó, các mô hình trồng nấm linh chi đỏ cũng đang được nhân rộng.
Điểm đáng chú ý là các mô hình này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần giữ rừng. Người dân khi tham gia trồng dược liệu dưới tán rừng sẽ gắn bó hơn với rừng, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Song song với phát triển vùng nguyên liệu, tỉnh Quảng Trị đang đẩy mạnh đầu tư vào chế biến nhằm gia tăng giá trị sản phẩm. Toàn tỉnh hiện có hơn 90 cơ sở sơ chế, chế biến dược liệu quy mô vừa và nhỏ, phân bố tại nhiều địa phương.
Đặc biệt, việc đưa vào hoạt động nhà máy sản xuất dược liệu đạt tiêu chuẩn GMP đầu tiên của tỉnh được xem là bước tiến quan trọng. Nhà máy có công suất từ 2- 5 tấn nguyên liệu tươi mỗi ngày, ứng dụng công nghệ chiết xuất cô đặc tuần hoàn chân không – một công nghệ hiện đại trong chế biến dược liệu.
Nhờ ứng dụng công nghệ, các sản phẩm dược liệu của Quảng Trị đã từng bước chuyển từ dạng thô sang các sản phẩm chế biến sâu như trà hòa tan, cao dược liệu… có chất lượng cao hơn, dễ bảo quản, thuận tiện tiêu dùng và nâng cao giá trị kinh tế.
Việc đầu tư vào chế biến không chỉ giúp nâng giá trị sản phẩm mà còn góp phần giải quyết đầu ra cho vùng nguyên liệu, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu thụ. Đây được xem là yếu tố then chốt để ngành dược liệu phát triển bền vững.
Trong thời gian tới, Quảng Trị đặt mục tiêu tiếp tục mở rộng diện tích trồng dược liệu. Cụ thể, tỉnh dự kiến phát triển thêm 200 ha vùng trồng tập trung tại các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời mở rộng thêm 200 ha dược liệu dưới tán rừng.
Để thực hiện mục tiêu này, tỉnh sẽ huy động nguồn lực đầu tư lên đến hàng chục tỷ đồng từ ngân sách nhà nước cho các chương trình phát triển vùng trồng, ứng dụng khoa học kỹ thuật và xây dựng các cơ sở chế biến.
Bên cạnh đó, Quảng Trị cũng đề xuất đưa vào danh mục phát triển nhiều loại dược liệu có giá trị cao như: sâm Ngọc Linh, ba kích, đảng sâm, khôi tía, sa nhân và sâm Bố Chính. Đây là những loại cây có tiềm năng lớn về kinh tế nếu được phát triển bài bản, gắn với thị trường.
Một trong những định hướng quan trọng là xây dựng các vùng trồng đạt tiêu chuẩn GACP-WHO – tiêu chuẩn quốc tế về thực hành tốt trồng trọt và thu hái dược liệu. Đồng thời, tỉnh sẽ hỗ trợ thành lập các hợp tác xã, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị từ trồng trọt, thu hoạch đến chế biến và tiêu thụ.
Bà Nguyễn Hồng Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị, cho biết đến nay, trong quá trình phát triển vùng trồng và ngành hàng dược liệu, ngày càng có nhiều hợp tác xã và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tham gia vào chuỗi giá trị, từ khâu sản xuất giống, trồng trọt, thu hái đến sơ chế, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
"Việc tham gia của các tổ chức kinh tế này đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, đảm bảo đầu ra ổn định và từng bước hình thành các chuỗi liên kết giá trị bền vững," bà Phương nhấn mạnh.




Từ các cuộc hội thảo, nghiên cứu chung và đề xuất dự án, hợp tác Việt Nam – Nhật Bản tại Nghi Sơn đang hướng tới một chuỗi công việc cụ thể: thu khí thải tại nhà máy, vận chuyển và lưu trữ dưới lòng đất.
Ô nhiễm không khí ngày càng trở thành thách thức lớn đối với các đô thị và hoạt động kinh tế. Những giải pháp tại Thổ Nhĩ Kỳ và Uzbekistan cho thấy muốn cải thiện chất lượng không khí cần kiểm soát đồng thời nhiều nguồn phát thải, từ giao thông, công nghiệp đến năng lượng và bụi, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ quan trắc, dự báo...
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc lưu ý khuyến khích người dân được quyền chủ động chuyển đổi sang sử dụng phương tiện giao thông xanh; không quy định bắt buộc chủ phương tiện, người dân, doanh nghiệp phải chuyển sang sử dụng phương tiện thuần điện, phương tiện giao thông xanh...
Với biên bản ghi nhớ vừa được ký giữa Vinatom với Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế trên cơ sở lò phản ứng MBIR của Nga mới đây, sẽ mở ra cơ hội để các nhà khoa học Việt Nam tiếp cận một trong những cơ sở nghiên cứu neutron nhanh có thông lượng cao nhất thế giới, qua đó tăng cường năng lực nghiên cứu vật liệu, nhiên liệu và công nghệ lò phản ứng…
Hội nghị lần thứ 31 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP31), dự kiến diễn ra từ ngày 9- 20/11/2026 tại Antalya (Thổ Nhĩ Kỳ), sẽ đặt trọng tâm vào nỗ lực chuyển các cam kết khí hậu thành hành động cụ thể, gắn với nguồn lực tài chính và đầu tư. Thông qua chuỗi sự kiện tại COP31, Việt Nam mong muốn truyền tải thông điệp phát triển gắn với chuyển đổi xanh và mục tiêu Net Zero vào năm 2050...
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…
158,76 tỷ đồng là khoản tiền được UBND thành phố Hà Nội bố trí hỗ trợ người dân lắp hệ thống điện mặt trời mái nhà. UBND cấp xã là cơ quan chịu trách nhiệm giải quyết hồ sơ và quyết định phê duyệt kinh phí hỗ trợ.