Trong 30 năm sau đó, tăng trưởng của Nhật Bản chậm lại rõ rệt, trong khi Trung Quốc bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ, làm thay đổi sâu sắc cục diện thương mại, sản xuất và đầu tư toàn cầu.
Dựa trên số liệu từ Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF), đồ họa thông tin dươi đây so sánh tổng sản phẩm trong nước (GDP) danh nghĩa của Nhật Bản vào năm 1995 và năm 2025, qua đó cho thấy cán cân quyền lực kinh tế tại châu Á đã thay đổi mạnh như thế nào trong ba thập kỷ qua.
Năm 1995, chỉ vài năm sau khi Liên Xô tan rã, Nhật Bản vẫn vững vàng ở vị trí nền kinh tế lớn thứ hai thế giới tính theo GDP danh nghĩa, chỉ sau Mỹ.
Là quốc gia ngoài phương Tây đầu tiên công nghiệp hóa, Nhật Bản từ lâu đã giữ vai trò cường quốc kinh tế hàng đầu châu Á. Vị thế này được củng cố bởi quá trình tái thiết sau chiến tranh, cùng năng lực xuất khẩu các sản phẩm chất lượng cao, giá trị lớn và được ưa chuộng trên toàn cầu.
Đến năm 1995, quy mô kinh tế Nhật Bản thậm chí lớn hơn phần còn lại của châu Á, châu Phi và Đông Âu cộng lại.
Sự trỗi dậy của Nhật Bản mạnh đến mức trong thập niên 1980, nhiều nhà quan sát tin rằng nước này cuối cùng có thể thách thức vị thế dẫn đầu kinh tế của Mỹ. Các doanh nghiệp Nhật Bản thống trị nhiều ngành, từ điện tử tiêu dùng đến ô tô, trong khi Tokyo trở thành biểu tượng của năng lực quản trị doanh nghiệp và trình độ công nghệ.
Trước sự vươn lên nhanh chóng của Nhật Bản, Mỹ đã áp đặt các hạn chế đối với ô tô và con chip xuất khẩu từ Nhật sang thị trường Mỹ. Năm 1985, Nhật Bản cùng Mỹ, Tây Đức, Pháp và Anh ký Hiệp ước Plaza, theo đó các nước phối hợp làm giảm giá USD. Hệ quả là đồng yên tăng giá mạnh so với USD và nhiều đồng tiền khác. Các phản ứng chính sách sau đó của Nhật Bản, đặc biệt là chính sách tiền tệ nới lỏng, được cho là một trong những yếu tố góp phần thổi phồng bong bóng tài sản vào cuối thập niên 1980.
Kinh tế Nhật Bản bắt đầu hụt hơi từ đầu thập niên 1990, sau khi bong bóng chứng khoán và bất động sản sụp đổ. Những thập kỷ sau đó thường được gọi là “thập kỷ mất mát” của Nhật Bản.
Trong giai đoạn này, GDP danh nghĩa của Nhật Bản giảm một phần do đồng yên suy yếu. Tăng trưởng GDP thực chậm lại rõ rệt, trong khi nợ công tăng mạnh.
Trong khi đó, một nền kinh tế lớn khác của châu Á bắt đầu nổi lên. Nhờ quá trình cải cách và mở cửa, Trung Quốc tăng trưởng nhanh trong những năm đầu thế kỷ 21, với tốc độ bình quân hàng năm ít nhất 7%, đồng thời tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu.
Dù từng là một quốc gia nghèo và kém phát triển trong phần lớn thời gian của thế kỷ 20, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản về GDP danh nghĩa vào năm 2010 và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.
Đến năm 2025, sự trỗi dậy của Trung Quốc thể hiện rõ nét đến mức chỉ một số địa phương của nước này cũng vượt qua Nhật Bản về quy mô kinh tế. Năm ngoái, GDP danh nghĩa của Trung Quốc đạt khoảng 20 nghìn tỷ USD, gấp gần 5 lần Nhật Bản. GDP của Nhật Bản hiện còn nhỏ hơn tổng GDP của 4 tỉnh thành của Trung Quốc gồm Thượng Hải, Phúc Kiến, Quảng Đông, Chiết Giang cộng lại.
Báo cáo Stern công bố cách đây 20 năm đã chỉ ra rằng chi phí không hành động trước biến đổi khí hậu lớn hơn chi phí ứng phó, đồng thời khẳng định tăng trưởng kinh tế có thể song hành với cắt giảm phát thải. Tuy nhiên, những mô hình kinh tế truyền thống vẫn đang khiến nhiều chính phủ, doanh nghiệp đánh giá thấp rủi ro khí hậu và chậm chuyển đổi…
Tỷ lệ thất nghiệp dự báo năm 2026 có sự chênh lệch rõ rệt giữa các nền kinh tế, phản ánh bức tranh thị trường lao động rất khác nhau trên thế giới. Trong đó, Việt Nam thuộc nhóm nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất...
Thông tin về gánh nặng chi phí ngày càng tăng của Mỹ trong cuộc chiến ở Vùng Vịnh xuất hiện trong bối cảnh nước này chuẩn bị bước vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ...
Thị trường tài chính Indonesia tiếp tục chịu sức ép lớn khi nhà đầu tư đồng loạt bán ra cổ phiếu, trái phiếu chính phủ và đồng rupiah, trong bối cảnh lo ngại công ty cung cấp chỉ số MSCI có thể hạ hạng thị trường chứng khoán nước này...
Trong tháng 10, rủi ro tín dụng của doanh nghiệp Nhật Bản tăng mạnh nhất kể từ tháng 9/2022, gia tăng sức ép lên thị trường trái phiếu vốn đang phải hấp thụ lượng phát hành kỷ lục...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.