Năng suất lao động - được đo bằng giá trị hàng hóa và dịch vụ tạo ra trên mỗi giờ làm việc - là một chỉ báo quan trọng về mức độ hiệu quả và thịnh vượng của một nền kinh tế.
Dù các nền kinh tế phát triển vẫn chiếm đa số ở nhóm dẫn đầu về năng suất lao động, một số thị trường mới nổi ghi nhận sự cải thiện đáng kể nhờ đẩy mạnh công nghiệp hóa và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Số liệu từ Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho thấy Ireland đứng đầu về năng suất lao động khi GDP trên mỗi giờ làm việc năm 2025 là 139,1 USD, tăng từ 68,8 USD năm 2005, tương đương mức tăng 102%.
Tuy vậy, phần lớn sự cải thiện này mang tính kỹ thuật thống kê hơn là phản ánh sự dịch chuyển mang tính cấu trúc của nền kinh tế. Việc các tập đoàn công nghệ và dược phẩm toàn cầu như: Apple, Google, Pfizer chuyển lợi nhuận và hạch toán tài sản sở hữu trí tuệ tại Ireland đã kéo GDP danh nghĩa của nước này tăng mạnh.
Năng suất của Trung Quốc tăng từ 4,5 USD/giờ năm 2005 lên 19,8 USD/giờ năm 2025, tức tăng hơn 340%. Giai đoạn đầu thập niên 2010 chứng kiến bước nhảy vọt về năng suất lao động của quốc gia này khi các nhà máy được hiện đại hóa, hạ tầng phát triển nhanh và sản xuất công nghiệp dịch chuyển sang các phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn.
Tuy nhiên, tăng trưởng năng suất của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đã chững lại những năm gần đây. Trong bối cảnh tiền lương tăng và ngành sản xuất dần bão hòa, dư địa tăng năng suất của Trung Quốc ngày càng phụ thuộc vào tự động hóa, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và sự đổi mới sáng tạo của khu vực dịch vụ.
Tại Saudi Arabia, năng suất giảm từ 85,6 USD/giờ năm 2005 xuống còn 56,6 USD/giờ năm 2025. Diễn biến này phản ánh tác động kép của xu hướng giá dầu đi xuống trong thập niên 2010 và hạn ngạch sản lượng do liên minh OPEC+ - gồm Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và một số đồng minh gồm Nga - áp dụng, qua đó kìm hãm tăng trưởng GDP của Saudi Arabia.
Dù chương trình cải tổ kinh tế Vision 2030 của Riyadh đang thúc đẩy phát triển các ngành phi dầu mỏ, lĩnh vực dầu khí vẫn giữ vai trò trụ cột của nền kinh tế nước này.
Ngược lại, Na Uy - cũng là một nền kinh tế giàu tài nguyên - vẫn duy trì mức năng suất lao động thuộc nhóm cao nhất thế giới với 123,6 USD/giờ nhờ hệ thống quản trị hiệu quả, chính sách tái đầu tư nguồn thu từ dầu khí thông qua quỹ đầu tư quốc gia và lực lượng lao động trình độ cao.
Trong khi đó, Mỹ, Đức và Pháp đều ghi nhận mức tăng năng suất lao động ổn định. Trong hai thập niên qua, năng suất lao động của Mỹ tăng từ 63,2 USD lên 81,8 USD/giờ, Đức từ 66,3 USD lên 80,5 USD, còn Pháp từ 72,3 USD lên 82,2 USD.
Khu vực Tây Âu tiếp tục vượt trội về năng suất lao động nhờ đẩy mạnh tự động hóa và đào tạo kỹ năng cho người lao động, trong khi đó Nhật Bản và Anh tăng trưởng năng suất chậm hơn do dân số già hóa và đầu tư trì trệ.
Báo cáo Stern công bố cách đây 20 năm đã chỉ ra rằng chi phí không hành động trước biến đổi khí hậu lớn hơn chi phí ứng phó, đồng thời khẳng định tăng trưởng kinh tế có thể song hành với cắt giảm phát thải. Tuy nhiên, những mô hình kinh tế truyền thống vẫn đang khiến nhiều chính phủ, doanh nghiệp đánh giá thấp rủi ro khí hậu và chậm chuyển đổi…
Tỷ lệ thất nghiệp dự báo năm 2026 có sự chênh lệch rõ rệt giữa các nền kinh tế, phản ánh bức tranh thị trường lao động rất khác nhau trên thế giới. Trong đó, Việt Nam thuộc nhóm nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất...
Thông tin về gánh nặng chi phí ngày càng tăng của Mỹ trong cuộc chiến ở Vùng Vịnh xuất hiện trong bối cảnh nước này chuẩn bị bước vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ...
Thị trường tài chính Indonesia tiếp tục chịu sức ép lớn khi nhà đầu tư đồng loạt bán ra cổ phiếu, trái phiếu chính phủ và đồng rupiah, trong bối cảnh lo ngại công ty cung cấp chỉ số MSCI có thể hạ hạng thị trường chứng khoán nước này...
Trong tháng 10, rủi ro tín dụng của doanh nghiệp Nhật Bản tăng mạnh nhất kể từ tháng 9/2022, gia tăng sức ép lên thị trường trái phiếu vốn đang phải hấp thụ lượng phát hành kỷ lục...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.