Trong bối cảnh như vậy, Chính phủ Nhật đang triển khai việc xây dựng dự trữ naphtha để bảo vệ nền kinh tế khỏi những cú sốc nguồn cung trong tương lai. Tuy nhiên, theo tờ báo Nikkei Asia, nỗ lực này của Nhật Bản đối mặt với không ít thách thức về mặt. kinh tế và kỹ thuật.
Tháng 6 vừa qua, Thủ tướng Sanae Takaichi đã chỉ đạo Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Ryosei Akazawa xây dựng một "gói giải pháp toàn diện nhằm củng cố cấu trúc cung cầu năng lượng" trước cuối tháng 8. “Tokyo đang xem xét các phương pháp dự trữ và các biện pháp hỗ trợ cần thiết” để đảm bảo nguồn cung naphtha - theo lời ông Akazawa trong một cuộc họp báo vào ngày 7/7.
Naphtha là một nguyên liệu quan trọng để sản xuất nhiều sản phẩm phái sinh từ dầu mỏ, bao gồm các loại đồ nhựa và sơn. Khoảng 40% nguồn cung naphtha của Nhật Bản được sản xuất trong nước, 40% khác được nhập khẩu từ Trung Đông. Phần còn lại 20% được nhập khẩu từ các khu vực khác. Đáng chú ý, 90% dầu thô mà Nhật Bản dùng để sản xuất naphtha trong nước đến từ Trung Đông.
Việc duy trì một lượng dự trữ naphtha trong nước sẽ giúp Nhật Bản thuận lợi hơn trong việc ngăn chặn các nút thắt nguồn cung và sự tăng giá đột biến trong các tình huống khẩn cấp. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp đang xem xét ba lựa chọn gồm: dự trữ naphtha, các sản phẩm trung gian hoặc dầu thô.
Tuy nhiên, việc dự trữ naphtha gặp phải nhiều thách thức đáng kể. Naphtha ở dạng lỏng dễ bay hơi ở nhiệt độ phòng, do đó cần có các cơ sở chuyên dụng để lưu trữ. Chất lượng của naphtha cũng giảm sút khá nhanh, và naphtha tồn kho của các nhà sản xuất hóa chất thường được luân chuyển trong vòng khoảng 20 ngày. Trong Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản, quan điểm phổ biến là việc dự trữ naphtha là "thiếu thực tế”.
Một lựa chọn khác là dự trữ các sản phẩm trung gian được tinh chế từ naphtha, như polyethylene và polypropylene. Nhiều trong số các vật liệu đã qua xử lý này là chất rắn, giúp việc lưu trữ dễ dàng hơn. Tuy nhiên, càng tinh chế naphtha, phạm vi ứng dụng của chất này càng hẹp. Các nhà sản xuất sản phẩm trung gian thường giữ lượng tồn kho tối thiểu phù hợp với nhu cầu. Việc bắt buộc dự trữ có thể làm tăng chi phí quản lý tồn kho và đẩy giá thành sản phẩm cuối cùng lên cao.
Lựa chọn dự trữ dầu thô sẽ mang lại sự linh hoạt lớn nhất. Nếu naphtha được thêm vào danh mục sản phẩm được bao phủ bởi Luật Dự trữ dầu, yêu cầu các nhà phân phối và tinh chế dầu duy trì dự trữ, các công ty có thể đáp ứng nghĩa vụ này bằng cách giữ một lượng dầu thô tương đương. Gánh nặng tồn kho cần thiết cũng có thể được điều chỉnh giữa các công ty.
Cách tiếp cận này sẽ đòi hỏi thay đổi các quy định của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản dựa trên Luật Dự trữ dầu. Hiện tại, các quy định yêu cầu dự trữ các sản phẩm như xăng, dầu hỏa, dầu nặng và dầu diesel.
Naphtha đã từng nằm trong yêu cầu dự trữ của Nhật Bản cho đến năm 1993. Trước đó, các nhà sản xuất hóa chất Nhật Bản đã phản đối việc mua naphtha sản xuất trong nước với giá tương đối cao, và Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp - tiền thân của Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp hiện tại - đã quyết định tự do hóa nhập khẩu naphtha vào những năm 1980. Cùng với việc mở rộng dự trữ dầu lửa chiến lược của Nhật Bản, Chính phủ nước này đã dần dần giảm mức dự trữ naphtha bắt buộc, và cuối cùng đã loại bỏ yêu cầu này.
Với những tác động từ cuộc chiến Iran, các nhà sản xuất hóa chất Nhật Bản hiện nay có thể sẽ dễ dàng chấp nhận hơn việc dự trữ dầu thô có thể chuyển đổi thành naphtha. "Có thể, chúng ta sẽ cần phải thảo luận về một khuôn khổ trong đó chi phí được chia sẻ rộng rãi và mỗi đơn vị sẽ gánh một phần nhỏ”, ông Manabu Chikumoto, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hóa dầu Nhật Bản và chủ tịch tập đoàn hóa chất Mitsubishi, nói trong một cuộc họp báo vào ngày 16/7.
Một số doanh nghiệp phân phối dầu, những đơn vị sẽ phải chịu chi phí quản lý tồn kho lớn hơn, gọi vấn đề này là một "cuộc thảo luận rắc rối”. Sự hỗ trợ của chính phủ để giảm bớt gánh nặng cho các nhà phân phối này có thể sẽ là một yếu tố cần thiết để thúc đẩy kế hoạch tiến triển.
Báo cáo Stern công bố cách đây 20 năm đã chỉ ra rằng chi phí không hành động trước biến đổi khí hậu lớn hơn chi phí ứng phó, đồng thời khẳng định tăng trưởng kinh tế có thể song hành với cắt giảm phát thải. Tuy nhiên, những mô hình kinh tế truyền thống vẫn đang khiến nhiều chính phủ, doanh nghiệp đánh giá thấp rủi ro khí hậu và chậm chuyển đổi…
Tỷ lệ thất nghiệp dự báo năm 2026 có sự chênh lệch rõ rệt giữa các nền kinh tế, phản ánh bức tranh thị trường lao động rất khác nhau trên thế giới. Trong đó, Việt Nam thuộc nhóm nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất...
Thông tin về gánh nặng chi phí ngày càng tăng của Mỹ trong cuộc chiến ở Vùng Vịnh xuất hiện trong bối cảnh nước này chuẩn bị bước vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ...
Thị trường tài chính Indonesia tiếp tục chịu sức ép lớn khi nhà đầu tư đồng loạt bán ra cổ phiếu, trái phiếu chính phủ và đồng rupiah, trong bối cảnh lo ngại công ty cung cấp chỉ số MSCI có thể hạ hạng thị trường chứng khoán nước này...
Trong tháng 10, rủi ro tín dụng của doanh nghiệp Nhật Bản tăng mạnh nhất kể từ tháng 9/2022, gia tăng sức ép lên thị trường trái phiếu vốn đang phải hấp thụ lượng phát hành kỷ lục...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.