Phó Thủ tướng Lê Thành Long vừa ký Quyết định số 2230/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045.
Đề án hướng tới việc xây dựng đội ngũ nhân lực ngành đường sắt đồng bộ, có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án đường sắt tốc độ cao, đường sắt quốc gia điện khí hóa và đường sắt đô thị. Đồng thời, hướng tới làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển công nghiệp đường sắt hiện đại, tự chủ và bền vững.
Trong giai đoạn 2025–2030, Đề án đặt mục tiêu đào tạo ít nhất 35.000 nhân lực, tập trung vào lực lượng chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án đường sắt tốc độ cao, đường sắt điện khí hóa, đường sắt đô thị, đồng thời bổ sung đội ngũ giảng viên cho các cơ sở đào tạo.
Cụ thể, đào tạo khoảng 1.000 nhân lực trình độ sau đại học, gồm 80 tiến sĩ và 920 thạc sĩ (trong đó có 60 tiến sĩ và 150 thạc sĩ là giảng viên); 14.000 nhân lực trình độ đại học, 11.000 nhân lực cao đẳng và 9.000 nhân lực trung cấp.
Về chuyên ngành, dự kiến đào tạo 4.700 nhân lực về kỹ thuật xây dựng công trình đường sắt, 16.300 nhân lực kỹ thuật xây dựng, 3.700 nhân lực thông tin – tín hiệu đường sắt, 1.100 nhân lực hệ thống điện và năng lượng đường sắt, 1.700 nhân lực đầu máy – toa xe, 1.500 nhân lực kinh tế xây dựng và kinh tế vận tải đường sắt, cùng 6.000 nhân lực khai thác vận tải đường sắt.
Ngoài ra, sẽ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho khoảng 5.000 nhân lực phục vụ vận hành, khai thác, bảo trì các tuyến đường sắt đô thị; bồi dưỡng kỹ năng quản lý và phát triển đường sắt cho khoảng 500 lượt cán bộ, công chức, viên chức, chuyên gia, và bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý dự án đường sắt cho khoảng 1.000 nhân lực.
Giai đoạn 2031–2035, Đề án sẽ đào tạo ít nhất 70.000 nhân lực, tiếp tục tăng cường đào tạo đội ngũ chất lượng cao phục vụ triển khai các dự án đường sắt tốc độ cao, đường sắt quốc gia điện khí hóa và đường sắt đô thị, đồng thời phát triển nguồn giảng viên cho các cơ sở đào tạo.
Trong đó, dự kiến sẽ có 2.000 nhân lực trình độ sau đại học (100 tiến sĩ, 1.900 thạc sĩ), 18.000 nhân lực đại học, 30.000 nhân lực cao đẳng và 20.000 nhân lực trung cấp.
Về lĩnh vực chuyên môn, đào tạo 12.300 nhân lực kỹ thuật công trình đường sắt, 21.400 nhân lực kỹ thuật xây dựng, 9.300 nhân lực thông tin – tín hiệu đường sắt, 7.600 nhân lực hệ thống điện và năng lượng đường sắt, 8.000 nhân lực đầu máy – toa xe, 2.100 nhân lực kinh tế xây dựng và vận tải đường sắt, cùng 9.300 nhân lựckhai thác vận tải đường sắt.
Đồng thời, đào tạo, bồi dưỡng ít nhất 40.000 nhân lực đáp ứng yêu cầu vận hành, khai thác, bảo trì các tuyến đường sắt, gồm: 13.800 nhân lực cho đường sắt tốc độ cao, 5.000 nhân lực cho các tuyến đường sắt quốc gia, và 21.200 nhân lực cho đường sắt đô thị.
Định hướng đến năm 2045, Việt Nam sẽ tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng bổ sung nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu thực tế của các dự án đường sắt và hoạt động vận hành, bảo trì; đồng thời hình thành một số trung tâm đào tạo và chuyển giao công nghệ đường sắt hiện đại mang tầm khu vực.
Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án xác định 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu bao gồm:Hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực đường sắt; Nâng cao năng lực các cơ sở đào tạo, nghiên cứu; Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; Phát triển nhân lực nghiên cứu, ứng dụng, tiếp nhận và làm chủ công nghệ đường sắt; Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, phát triển nhân lực; Đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, thúc đẩy hợp tác công - tư trong đào tạo và phát triển nhân lực ngành đường sắt.
Với kế hoạch chuyển đổi 44 khu công nghiệp theo mô hình sinh thái đến năm 2030, tầm nhìn 2050, Đồng Nai đang đặt mục tiêu tái định vị lợi thế thu hút đầu tư trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn xanh...
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.
Sau năm 2025 ghi nhận kết quả kinh doanh cao nhất lịch sử, Vietnam Airlines đang đẩy mạnh đầu tư đội bay, mở rộng mạng bay quốc tế, phát triển logistics hàng không và hệ sinh thái dịch vụ nhằm đón đầu nhu cầu tăng trưởng mới của thị trường.
Mô hình Trung tâm dịch vụ tài chính hàng không là “nút” chuyên biệt kết nối với Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam. Đây là giải pháp then chốt giúp Đồng Nai chuyển mình thành đô thị dịch vụ tài chính, nhằm giữ lại giá trị gia tăng, thu hút FDI chất lượng cao và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh bền vững...
Việc xác định ranh giới các khu vực TOD dọc tuyến metro số 2 Bến Thành - Tham Lương mở ra bước tiếp theo trong quá trình tái cấu trúc không gian đô thị gắn với hệ thống đường sắt đô thị, đồng thời kết nối với các trung tâm thương mại, dịch vụ, dân cư và logistics dọc hành lang tuyến metro.
Kinh tế ngày nay không còn là một lĩnh vực tách biệt, mà được định hình mạnh mẽ bởi địa chính trị, công nghệ và tính bền vững. Giữa dòng chảy thông tin dồi dào, điều độc giả cần nhất ở báo chí chính thống là bối cảnh, góc nhìn chuyên sâu và sự tin cậy. Trong giai đoạn tới, sứ mệnh lớn nhất của báo chí kinh tế không phải là trở thành người đưa tin nhanh nhất, mà là trở thành nền tảng tinh thần của nền kinh tế.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.