Xuất khẩu của Nhật Bản trong tháng 9 đã tăng trưởng trở lại sau 4 tháng giảm liên tiếp, với mức tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, sự phục hồi này không đồng đều vì xuất khẩu sang thị trường Mỹ tiếp tục sụt giảm.
Theo số liệu thống kê chính thức của Nhật công bố ngày 22/10, xuất khẩu của nước này sang Mỹ - đối tác thương mại lớn thứ hai của Nhật Bản - đã giảm 13,3% trong tháng 9.
Tình trạng suy giảm xuất khẩu của Nhật sang Mỹ diễn ra trong bối cảnh xuất khẩu của nước này sang các thị trường ở châu Á, đặc biệt là Trung Quốc - đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản - tăng mạnh. Kim ngạch xuất khẩu của Nhật trong tháng 9 sang khu vực châu Á tăng 9,2%, trong đó mức tăng ghi nhận với thị trường Trung Quốc đại lục là 5,8%.
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm xuất khẩu của Nhật sang Mỹ là tác động của các biện pháp thuế quan mà Mỹ áp lên hàng hóa Nhật, đặc biệt là ô tô. Xuất khẩu ô tô của Nhật Bản sang Mỹ đã giảm 24,2% về giá trị trong tháng 9, mặc dù mức giảm này đã ít hơn so với mức giảm 28,4% trong tháng 8.
Thỏa thuận thương mại giữa Tokyo và Washington đạt được vào tháng 7 đã giúp giảm thuế quan mà Mỹ áp lên Nhật Bản từ 25% xuống còn 15%, có hiệu lực từ ngày 7/8, nhưng dường như việc giảm thuế đó vẫn chưa đủ để đảo ngược xu hướng giảm của xuất khẩu Nhật sang thị trường Mỹ.
Trong khi đó, xuất khẩu bán dẫn đã đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng xuất khẩu tổng thể của Nhật Bản. So với cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu bán dẫn tháng 9 của Nhật tăng 12,6%. Điều này cho thấy sự phục hồi của ngành công nghiệp công nghệ cao, một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế Nhật Bản.
Tuy nhiên, ông Hirofumi Suzuki, chiến lược gia trưởng về ngoại hối tại ngân hàng Sumitomo Mitsui Banking Corporation, cảnh báo rằng xuất khẩu tháng 9 của Nhật Bản thực ra không mạnh như những gì con số thống kê phản ánh, bởi mức tăng trưởng cao chủ yếu do mức cơ sở so sánh thấp của năm trước.
Ông dự báo nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu đối với hàng hóa của Nhật sẽ tiếp tục phục hồi, thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch, nhưng cũng cảnh báo rằng căng thẳng thương mại Mỹ-Trung đang làm mờ đi triển vọng này.
Những thay đổi tiềm tàng trong chính sách kinh tế của Nhật Bản dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng mới, bà Sanae Takaichi, cũng có thể sẽ ảnh hưởng đến tình hình xuất khẩu. Chính sách tiền tệ nới lỏng và kích thích tài khóa mạnh mẽ của bà Takaichi có khả năng làm suy yếu đồng yên, khiến hàng hóa Nhật Bản trở nên cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế, mang lại lợi ích cho các nhà xuất khẩu.
Tuy nhiên, ông Suzuki lưu ý tỷ giá đồng yên so với đồng USD hiện đã yếu đi so với năm ngoái, nhưng xuất khẩu của Nhật vẫn chưa có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Ông nhấn mạnh rằng các yếu tố chính sách như thuế quan dường như có tác động lớn hơn đến xuất khẩu của Nhật so với tỷ giá hối đoái.
Báo cáo Stern công bố cách đây 20 năm đã chỉ ra rằng chi phí không hành động trước biến đổi khí hậu lớn hơn chi phí ứng phó, đồng thời khẳng định tăng trưởng kinh tế có thể song hành với cắt giảm phát thải. Tuy nhiên, những mô hình kinh tế truyền thống vẫn đang khiến nhiều chính phủ, doanh nghiệp đánh giá thấp rủi ro khí hậu và chậm chuyển đổi…
Tỷ lệ thất nghiệp dự báo năm 2026 có sự chênh lệch rõ rệt giữa các nền kinh tế, phản ánh bức tranh thị trường lao động rất khác nhau trên thế giới. Trong đó, Việt Nam thuộc nhóm nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất...
Thông tin về gánh nặng chi phí ngày càng tăng của Mỹ trong cuộc chiến ở Vùng Vịnh xuất hiện trong bối cảnh nước này chuẩn bị bước vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ...
Thị trường tài chính Indonesia tiếp tục chịu sức ép lớn khi nhà đầu tư đồng loạt bán ra cổ phiếu, trái phiếu chính phủ và đồng rupiah, trong bối cảnh lo ngại công ty cung cấp chỉ số MSCI có thể hạ hạng thị trường chứng khoán nước này...
Trong tháng 10, rủi ro tín dụng của doanh nghiệp Nhật Bản tăng mạnh nhất kể từ tháng 9/2022, gia tăng sức ép lên thị trường trái phiếu vốn đang phải hấp thụ lượng phát hành kỷ lục...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.